|
Đó là
loại thực phẩm không chỉ cung cấp dinh dưỡng
cơ bản mà còn có chức năng phòng chống bệnh
tật và tăng cường sức khỏe nhờ các chất
chống oxy hóa (beta-caroten, lycopen,
lutein, vitamin C, vitamin E...), chất xơ và
một số thành phần khác.
Loại thực
phẩm chức năng được kể đến đầu tiên là những
thực phẩm mà khi ở dạng tự nhiên đã có những
hoạt chất có lợi với lượng lớn. Tiếp đó là
nhóm thực phẩm có ít hoạt chất hơn, phải bổ
sung hoặc tinh chế cô đặc lại ở dạng dễ sử
dụng, hay gây biến đổi gene để tăng hàm
lượng một số chất có lợi.
Có thể dễ dàng nhận biết những thực phẩm
chức năng ở dạng tự nhiên được sử dụng hằng
ngày. Nhưng với những thực phẩm có bổ sung
và biến đổi, bạn phải biết cách đọc nhãn bao
bì thực phẩm (với điều kiện chúng phải qua
kiểm duyệt một cách nghiêm túc và được sản
xuất bởi những công ty uy tín.
Ở Mỹ, hiện nay, thực phẩm chức năng thường
được đóng gói giống như những thực phẩm
thông thường và trên bao bì cung cấp 2 loại
thông tin: xác nhận có lợi cho sức khỏe
(health claims) và xác nhận về cấu trúc/chức
năng (structure/function claims). Những
thực phẩm được xác nhận có lợi cho sức khỏe
phải được cơ quan y tế chứng nhận trước khi
đưa ra thị trường tiêu thụ. Còn những thực
phẩm có xác nhận về cấu trúc/chức năng dùng
để chuyển tải những lợi ích tiềm tàng (chứ
chưa chắc chắn) của loại thực phẩm đó đối
với sức khỏe con người. Ví dụ có thể giúp
hỗ trợ tiêu hóa là nội dung thuộc dạng thứ
hai, không đòi hỏi có xác nhận của Cơ quan
Quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA), nhưng
nhà sản xuất phải xuất trình đầy đủ tài liệu
để chứng minh khi đăng ký sản phẩm.
Hiện nay, các nước tiên tiến như Nhật, Anh
và Mỹ vẫn đang nỗ lực để ngày càng hoàn
thiện hệ thống phân loại, quản lý và phân
phối thực phẩm chức năng đến người tiêu
dùng. Tuy nhiên đến nay, thế giới vẫn chưa
có một định nghĩa chung về nó vì còn một số
thực phẩm muốn dán nhãn với định danh này
nhưng không trải qua một thử nghiệm hoặc
tuân theo tiêu chuẩn nào. Mặt khác, cũng có
một số kiểu luồn lách, ví dụ như các thực
phẩm chức năng gắn tên thực phẩm chữa bệnh
(medical foods) sẽ tránh được quy định của
FDA, hoặc có trường hợp nhà sản xuất bổ sung
thêm một số chất có lợi cho sức khỏe vào các
sản phẩm giàu chất béo, cholesterol,
đường... để bán ở dạng thực phẩm chức năng.
Trên thực tế, mỗi năm ở Mỹ vẫn có hàng nghìn
người tiêu dùng than phiền về chất lượng và
tính an toàn của chủng loại thực phẩm này.
Do đó, điều
quan trọng là phải phân biệt những thực phẩm
chức năng có ích đã được khoa học chứng minh
khá đầy đủ với những loại cần nghiên cứu
thêm. Không nên vội vàng sử dụng khi mới chỉ
có kết quả của một vài nghiên cứu ban đầu.
Dựa trên mức độ tin cậy của các bằng chứng
khoa học từ nhiều đến ít, Hội đồng Khoa học
và Sức khỏe Mỹ đã xếp loại các thực phẩm
chức năng như sau:
Nhóm thực phẩm
có bằng chứng đáng tin cậy nhất
- Kẹo nhai
không đường và kẹo cứng làm từ loại đường có
gốc rượu (không gây sâu răng).
- Những loại làm giảm cholesterol và giảm
nguy cơ bệnh tim mạch. Trong đó có sản phẩm
chế biến thô của yến mạch giàu chất xơ không
tan và stanol ester; thực phẩm có chất xơ
psyllium hòa tan; những thực phẩm chế biến
thô từ đậu nành và từ đạm đậu nành có hoạt
chất stanol ester, saponins, isoflavones,
daidzein và genistein; bơ thực vật có bổ
sung stanol thực vật hoặc sterol esters.
Nhóm có bằng
chứng đủ độ tin cậy
- Cá nhiều mỡ
chứa acid béo omega-3 giúp giảm nguy cơ bệnh
tim mạch.
Nhóm có bằng
chứng ở mức vừa phải
- Tỏi có các hợp chất lưu huỳnh hữu cơ như
diallyl sulfide làm giảm cholesterol máu...
- Nước ép trái cranberry chứa
proanthocyanidins làm giảm nguy cơ nhiễm
trùng đường tiểu.
Nhóm có bằng
chứng chưa đủ tin cậy, cần nghiên cứu thêm
- Trà xanh chứa catechins làm giảm nguy cơ
mắc bệnh ung thư đường tiêu hóa.
- Lycopene trong cà chua và các sản phẩm từ
cà chua giúp giảm nguy cơ một số bệnh ung
thư, đặc biệt là ung thư tiền liệt tuyến.
Nhóm còn tranh
cãi nhiều
- Rau có lá màu xanh đậm chứa lutein làm
giảm nguy cơ bệnh thoái hóa võng mạc.
- Thịt và các sản phẩm chế biến từ sữa chứa
acid béo CLA (conjugated linoleic acid) rất
có ích cho sức khỏe và làm giảm nguy cơ ung
thư.
- Các loại rau họ cải (bông cải xanh, cải
bẹ...) chứa hoạt chất sulphoraphane có tác
dụng trung hòa các gốc tự do, làm giảm nguy
cơ mắc bệnh ung thư.
- Probiotics (ví dụ vi khuẩn lactobacillus)
có lợi cho đường tiêu hóa và chức năng miễn
dịch.
|